Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Câu 8: Tư tưởng HCM : so sánh đặc trưng bản chất của CNXH theo TT HCM ...

Câu 8: So sánh đặc trưng bản chất của CNXH theo tư tưởng HCM với những đặc trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam trong cương lĩnh xây dựng đất nước ở thời kỳ quá độ đi lên con đường XHCN.

I. đặc trưng bản chất của CNXH theo tư tưởng HCM:
1. CNXH là một chế độ do dân làm chủ, Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng CNXH.
2. CNXH là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao gắn liền với sự phát triển sản xuất, khoa học công nghệ
3. CNXH là 1 xã hội phát triển cao về Văn hóa, đạo đức
4. CNXH là một xã hội công bằng, hợp lý
5. CNXH là một công trình tập thể của nhân dân và do nhân dân xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng
II. đặc trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam trong cương lĩnh xây dựng đất nước ở thời kỳ quá độ đi lên con đường XHCN:
1. CNXH ở nước ta là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ
2. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
3. Xã hội có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
4. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
5. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
6. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
* Giống nhau: Đều vận dụng Chủ nghiã MAC (2-2, 4-5)
* Khác nhau: (1-3, 5-6)

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

Câu 9: Triết học Mac - Lê Nin: trình bày Nội dung quy Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, ý nghĩa phương pháp luận:

Câu 9: Nội dung quy Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, ý nghĩa phương pháp luận:

1. Nội Dung Quy Luật Phủ Định Cái Phủ Định:

Trong quá trình vận động và phát triển mang tính chất vô tận của thế giới, sự vật mới được ra đời trên cơ sở phủ định sự vật cũ và sự vật mới này lại bị sự vật mới hơn phủ định. Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định, Khi hai mặt mâu thuẫn đấu tranh với nhau mà vượt qua độ giới hạn thì sự vật mới ra đời. Thế nhưng sự vật không dừng lại ở đó mà nó lại tiếp tục đấu tranh giữa các mặt mâu thuẫn mới và một lần nữa cái mới đó bị cái mới hơn phủ định. Quá trình phủ định hai lần đó được gọi là Phủ định của phủ định.

Quá trình phủ định của phủ định của sự vật đó làm xuất hiện những sự vật mới trên cơ sở cao hơn là kết quả tổng hợp tất cả các yếu tố tích cực mới được bổ sung và từ những lần khẳng định và phủ định trước đó. Quy luật phát triển liên tục, điểm kết thúc của chu kỳ này lại là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới. Do vậy, kết quả phủ định cái phủ định luôn luôn bao giờ cũng có hình thức mới hơn, có nội dung toàn diện và phong phú hơn những cái ban đầu.

Sự phát triển của sự vật có khuynh hướng từ thấp đến cao theo đường “xoáy ốc”. “sự phát triển theo đường xoáy ốc” thể hiện tính biện chứng của sự phát triển như: "tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên, mỗi vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao”.

2. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
Từ việc nghiên cứu quy luật phủ định của phủ định trên, chúng ta rút ra được một số ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung khách quan, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường đường thẳng mà theo đường đường xoáy ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.
- Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.
- Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển.

Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào xây dựng nền văn hoá Việt Nam bản sắc tiên tiến

MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trải qua hơn 55 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn kiện đầu tiên “Đề cương văn hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn và lý luận để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá.
Không phải ngẫu nhiên mà trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW khoá VII Đảng ta đã xác định văn hoá không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển quan điểm trên, Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX tiếp tục xác định mục tiêu cần phải đạt tới là tạo được sự phát triển đồng bộ về chất lượng văn hoá “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” (Văn kiện Hội nghị TW 10 khoá IX). Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tháng 4 năm 2006 đã tiếp tục khẳng định: “...Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua hơn 20 năm với đường lối đúng đắn của Đảng, cùng với công cuộc đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự hào như: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng; nền dân chủ XHCN với nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định. Bên cạnh việc hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập văn hóa cũng là một tất yếu khách quan. Tiến trình giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn, nếu coi nhẹ hội nhập kinh tế thì đất nước sẽ chậm thoát nghèo. Còn coi nhẹ hội nhập văn hóa đôi khi lại nguy hiểm hơn bởi có thể bị các nền văn hóa khác đồng hóa. Vì vậy bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế, chúng ta cần có chiến lược phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với phát triển kinh tế. Tất nhiên đậm đà bản sắc dân tộc không thể đóng cửa nền văn hóa, mà chủ động chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú, giàu có thêm, hiện đại hơn nền văn hóa của dân tộc của đất nước mình.
Văn hóa vốn bao giờ cũng là nền tảng quyết định của xã hội, một văn hóa cho sự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện nhất toàn cầu hóa và hôi nhập, toàn cầu hóa như một tất yếu. Có thể khẳng định: Văn hóa là cốt hồn của dân tộc, một dân tộc, nếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân tộc đó nữa. Vì thế, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hoá mà còn là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và toàn xã hội. Tôi quan tâm và chọn đề tài: “Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” để làm đề tài cho tiểu luận này.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế mở. Tuy nhiên, việc hội nhập có mặt tích cực và tiêu cực. Nếu chúng ta tiếp thu không chọn lọc, thì bên cạnh những mặt tích cực của nền văn minh hiện đại, chúng ta dễ bị tiếp thu những những mặt tiêu cực. Mặt khác, chúng ta còn lo ngại bị đánh mất truyền thống dân tộc, chạy theo các nước trên thế giới, bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi nền văn hoá của nước khác.
Mỗi một quốc gia đều có những truyền thống, những bản sắc riêng của mình. Bản sắc riêng của một dân tộc, giúp chúng ta phân biệt và nhận dạng rõ một quốc gia đó. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là một việc tất yếu trong nền kinh tế mở hiện nay. Với những lý do trên, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Vì thế tình huống đặt ra trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là điều tất yếu và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích nhiệm vụ.
- Làm rõ vấn đề văn hoá và bản sắc văn hóa ở Việt Nam.
- Đánh giá các mặt tích cực và hạn chế trong việc việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập ở nước ta.
- Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Thành quả của vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta.


NỘI DUNG
Chương 1
Những vấn đề chung về quy luật của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.Khái niệm phủ định biện chứng.
Theo nghĩa thông thường, phủ định được hiểu là sự không thừa nhận, bác bỏ hay sự thay thế một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong Triết học có hai quan điểm: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng về sự phủ định.
Quan điểm siêu hình hiểu sự phủ định là sự can thiệp của những lực lượng bên ngoài dẫn tới thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự phát triển của nó. Quan điểm biện chứng cho rằng phủ định là khâu tất yếu của bất kỳ sự phát triển nào. Đó là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật bị phủ định.
Vì vậy, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển dẫn tới sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định (kết quả của quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật ấy quyết định).
1.2. Nội dung quy luật:
Quy luật phủ định của phủ định là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển.
Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai.
Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và phủ định. Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra là do sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình. Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời. Sự vật này đối lập với cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất. Nó được bổ sung nhiều nhân tố mới. Như vậy sau hai lần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ định.
Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những lần phủ định tiếp theo. Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định có nội dung toàn diện hơn, phong phú hơn, có cái khẳng định ban đầu và kết quả của sự phủ định lần thứ nhất.
Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo. Sự vật lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để phát triển. Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn.
Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật - xu hướng phát triển. Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đường "xoáy ốc". Sự phát triển "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên. Mỗi vòng của đường xoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển. Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc".
Trong quá trình vận động của sự vật, những yếu tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ, trong đó những nhân tố tích cực của sự vật cũ được giữ lại. Song sự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi sự vật mới khác. Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó. Sau khi sự phủ định 2 lần của phủ định được thực hiện thì sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển.

1.3. Ý nghĩa:
Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật. Quá trình phát triển của bất kì một sự vật nào cũng không bao giờ đi theo một đường thẳng, nó gồm có nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sao bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước. Do đó, chúng ta phải hiểu những đặc điểm đó để có cách tác động phù hợp với yêu cầu phát triển.
Theo đó, mọi sự vật luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ. Do đó, trong hoạt động của mình, con người phải biết kế thừa tinh hoa của cái cũ, tránh thái độ phủ định sạch trơn.
Trong giới tự nhiên cái mới phát triển một cách tự phát, còn trong xã hội cái mới ra đời gắn liền với hoạt động có ý thức của con người. Chính vì thế trong hoạt động của chính mình con người phải biết phát hiện cái mới và ủng hộ nó.

Chương 2
Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
2.1. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình hội nhập văn hóa và thế giới.
Toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan, là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất, hạn chế được đến mức thấp nhất những thách thức, những tiêu cực nảy sinh.
Công cuộc đổi mới của đất nước ta hai mươi năm qua chính là sự chủ động hội nhập quốc tế, từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Về kinh tế, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển khá cao (từ 7,5 - 8% năm), cơ cấu kinh tế được chuyển địch theo hướng tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ, tốc độ hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ với những bước đi dài... tất cả đã tạo điều kiện chín muồi để Việt Nam vững bước trên tiến trình hòa nhập Thương mại Quốc tế WTO.
Chiến lược là vậy, hơn 20 năm hội nhập văn hóa thế giới quả là cuộc đấu tranh quyết liệt. Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý kiến khác nhau, không được đồng thuận như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đổi mới kinh tế. Điều này chứng tỏ quá trình hội nhập văn hóa của chúng ta còn có những vấn đề non yếu. Không ai phủ nhận sau 20 năm đổi mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng cao, được mở rộng, phong phú đa dạng và giàu có hơn nhiều. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, bên cạnh những mặt tốt đó, thì nhiều mặt tiêu cực của đời sống xã hội cũng nảy sinh. Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, đời sống văn hóa bị lai căng, nhiều chuẩn mực xã hội không còn được tôn trọng, một số mặt xấu được duy trì công khai không có người lên tiếng, nhiều tệ nạn không ngăn chặn được.
Riêng về lĩnh vực văn học nghệ thuật, hơn 20 năm hội nhập thì văn chương nghệ thuật thế giới ồ ạt tràn vào nước ta, cả những tác phẩm hay và những tác phẩm dở. Văn hóa bạo lực, tình dục ngang nhiên thách thức những thuần phong mỹ tục, những món hàng ăn liền rẻ tiền tấn công những giá trị sâu sắc, thâm nghiêm... Những tính chất văn chương nghệ thuật ngoại lai đó đôi khi còn có sức mạnh chiếm lĩnh hắn được một bộ phận làm nhiệm vụ sáng tạo, biểu diễn và một bộ phận công chúng nhất là khá đông đảo giới trẻ hoan hô môt cách vô tội vạ, "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” khá rầm rộ.
Hội nhập thế giới, nghĩa là ra với đại dương với nhiều sóng to gió lớn. Ở lĩnh vực nào cũng cần phải có người cầm lái có bản lĩnh và có tầm nhìn xa trông rộng. Trên thế giới đã có nhiều bài học về sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa hóa. Những bài học nào cũng chỉ có những giá trị nhất định chứ không thể là chìa khỏa vạn năng. Chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc là hoàn toàn đúng đắn, nhưng triển khai xây dựng quản lý văn hóa toàn xã hội là vô cùng khó khăn phức tạp, là thách thức lớn cần có sức mạnh của nhiều cấp nhiều ngành mới có thể làm được. Với quyết tâm cao thì cuối cùng căn bệnh nào cũng tìm ra được thuốc đặc trị, cũng tìm được giải pháp giải quyết đúng đắn.
Nền văn hóa Việt Nam mấy ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển đã thể hiện sức sống mãnh liệt. Âm mưu đồng hóa của những nền văn hóa lớn hết đợt sóng này đến đợt sóng khác cũng không xóa được bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói nền văn hóa Việt Nam đã được tôi luyện và có sức đề kháng cao. Điều này cho chúng ta tin tuởng vào chặng đường phát triển sắp tới của nền văn hóa dân tộc. Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại do hội nhập quốc tế hình thành có mâu thuẫn, có thủ tiêu nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống?
Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh thần có cuộc sống độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự phát triển đó.

Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc, phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị thôn tính, nhưng bản sắc đó không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định và phát triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình.
Nói như vậy không có nghĩa hội nhập văn hóa chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam.
Chúng ta dể dàng nhận thấy: “Toàn cầu hoá và hội nhập” một mặt làm nâng cao chất lượng sống, mặt khác cũng hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toán tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam…
Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa.
Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những thế mạnh trong đối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo những dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho. Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết.
Những năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, điều kiện sống, tiện nghi sinh hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó diễn ra không chỉ ở bề ngoài mà cả ở chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương diện đời sống đang hình thành liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở nước ngoài, thì nay lối sống đó đã nảy nở tại Việt Nam, trên một số lĩnh vực lối sống đó đã khống chế lối sống truyền thống Việt Nam, nhiều cách sinh hoạt, cách sống, cách nghĩ... thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành mạnh. Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người được xem như là chuyện bình thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối thượng, xem hưởng thụ vật chất là mục đích của cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông thả là luận điệu tự do, dân chủ không ranh giới. Tất cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến một lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân tộc, văn hoá dân tộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc lõng.
2.2. Sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tôc.
Hiện nay, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và những biến thể của nó đang là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm ở Việt Nam. Nỗi ám ảnh về bản sắc hiện diện ở khắp nơi, từ những diễn ngôn chính trị như "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc", "hội nhập nhưng không hòa tan" cho đến các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội như xây dựng thương hiệu Việt, tự kiểm điểm tính cách dân tộc hay phê bình văn học nghệ thuật. Không thể phủ định, đây là một định hướng đúng đắn, một mối quan tâm lành mạnh của toàn xã hội khi Việt Nam ngày càng tham gia một cách toàn diện hơn vào quá trình toàn cầu hóa nhưng tự bản thân những khát vọng bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc cũng đặt ra những câu hỏi hóc búa đối với toàn xã hội, trước hết là trong việc xác định bản sắc văn hóa dân tộc và sau đó là việc ứng xử với bản sắc văn hóa đó.
«Bản» là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật; «Sắc» là thể hiện ra ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực như: văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam.
Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước Việt Nam. Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử. Có những giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ xung vào. Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất. Nếu dân tộc không có ý thức giữ gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi.
Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những người cuộc Cách mạng Tháng tám sôi sục, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ với cái gọi là "Bản sắc" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cuối đời nhà Nguyễn thì thấy rõ. Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời Lý -Trần. Không thể nói, đấy là cùng một bản sắc chủ nghĩa yêu nước được!
Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực, hay là đã nói bản sắc là nói cái gì tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế.
Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc. Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng vậy. Giai cấp lãnh đạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc. Những giá trị nào lỗi thời phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa, nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển cách mạng, những sự kiện đổi đời của dân tộc ta như cuộc cách mạng Tháng tám, chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc, sự kiện Tây Sơn..., bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương thời của dân tộc. Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng với những lý do xác đáng, dân tộc ta kinh qua cuộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ tư tưởng Mác-Lênin như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình.
Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau, ví dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ... không có biên giới. Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ phát triển. Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước. Do đó sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu. Qua những cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của các dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh những cái khẳng định. Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và cái hay, đẹp của văn hóa nước khác chỉ vì chúng ta sợ bị ngoại lai. Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn, nếu chúng ta tiếp thu hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài, chỉ vì chúng là mới lạ, tân kỳ.
Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận rằng, nhiều yếu tố Phật giáo, Nho giáo, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng đã trở thành bộ phận khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam, đã được dân tộc Việt Nam biến thành sở hữu thật sự của mình.
Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải tiến, cái tốt nhưng lại bị cường điệu, cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêu cực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, mà chúng tôi khẳng định, những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm, theo dõi, gìn giữ, cải tiến, bổ sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đổi mới những hình thức không còn thích hợp, tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài... khiến cho những giá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụng xúc tác và hội tụ, đối với sự phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển. Tác dụng hội tụ là tác dụng gắn bó, kết hợp với mặt, các yếu tố thành một hệ thống nhất.
2.3. Thành quả của việc vận dụng vào xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Đối với nước ta những năm vừa qua, trong quá trình mở cửa giao lưu với thế giới, chúng ta không chỉ tiếp thu những giá trị hiện đại, tiên tiến mà còn bổ sung, điều chỉnh một số nét của các giá trị truyền thống cho phù hợp với thời đại, thẩm thấu và làm đa dạng thêm bản sắc của dân tộc. Chúng ta ngày càng ý thức rõ hơn về quá trình hội nhập. Trong quá trình thực tiễn phát triển đất nước, chúng đã được những thành quả trong việc xây dựng và phát huy bản sắc văn hóa đó là:
Quá trình hội nhập văn hóa đã làm cho các quốc gia đang ngày càng xích lại gần nhau hơn bởi những giá trị truyền thống chung, đồng thời tạo điều kiện cho mỗi dân tộc phát huy nét độc đáo, đặc trưng của mình. Quá trình này cũng sẽ tạo điều kiện cho thế giới luôn tồn tại trong sự thống nhất chung của tất cả những cái riêng, cái đặc thù; cái chung không bài trừ cái riêng mà cùng với cái riêng làm tiền đề cho nhau để cùng thúc đẩy nhau phát triển và tiến bộ.
Vận dụng quy luật phủ định của phủ định, ta không thể bảo vệ thụ động bản sắc mà chỉ hòa nhập cọ sát và biến đổi bản sắc mới xuất hiện và chói sáng. Từ Truyện Kiều, thơ Nôm hay tranh khắc gỗ dân gian, tuồng chèo, nhạc Cung Đình Huế, Quan Họ hay Ca trù... chứa đựng bản sắc dân tộc vì từng là sự giao thoa, cọ sát, khai thác lẫn nhau của các dòng văn nghệ, văn hóa khác nhau. Gần đây thì cái áo dài, cái nón tới tranh sơn mài, lụa, sơn dầu từ thời Đông Dương tới Đổi Mới, Thơ Mới, tiểu thuyết, kiến trúc "Đông Dương", cải lương... đều là những suối nguồn, và "kho chứa" của bản sắc dân tộc. Nó trừu tượng song không chung chung mà nằm ở các tác phẩm cụ thể của các tác giả cụ thể. Nếu có những nghiên cứu nhận dạng được những nét chung nào đó của các tác phẩm, tác giả đó thì ta có thể gọi tên "bản sắc dân tộc" ta.
Giữ gìn bản sắc không co vào cố thủ trong tính riêng biệt , khước từ giao lưu văn hoá. Trên thế giới này không có một nền văn hoá nào có tính thuần nhất bản địa. Sự thay đổi giữa các nền văn hoá là do trao đổi. Khi trao đổi ngừng thì cả hai địa bàn đều chững lại trong phát triển. Đây là phép biện chứng của nhân tố ngoại sinh trong sự phát triển nội sinh. Tuy nhiên sự hội nhập các giá trị văn hóa khác với sự tha hóa về văn hóa cũng như sự lai giống tốt khác với lai ghép vào cơ thể những gien lạ hoắc, gây nên sự biến dị , thậm chí những quái thai.
Chẳng nói gì xa. Nửa đầu thế kỷ XX, văn hoá và lối sống Pháp, theo đó là Âu châu, xâm nhập vào ta nhanh và mạnh, tưởng như ngự trị, trong khi văn hoá dân tộc có dấu hiệu suy yếu. Thế mà những năm 20 - 30 và đầu 40, dưới sự tác động của làn sóng ấy và cùng với vốn liếng văn hoá giàu bản sắc có sẵn, đã nảy nở cả một nền văn học - nghệ thuật Việt Nam mới hầu như chỉ tầng lớp tiểu tư sản mới hình thành tạo ra, với văn xuôi và thi ca, âm nhạc, hội hoạ, sân khấu, phê bình văn học… còn âm vang đến tận ngày nay. Cuộc hội họa đầu của thời mới bị đứt quãng ấy đã làm cho văn hoá Việt, con người Việt phong phú hơn, bổ túc những nét mới cho bản sắc. Ta chối bỏ những cái gì đó, ta tiếp thu và sản sinh ra những cái gì đó mới hơn, phù hợp hơn, có sức nâng cao ta lên.
Cuộc hội nhập thời nay mạnh mẽ hơn, toàn diện và toàn cục, sức chi phối, sức tác động của nó không thể so sánh với trước được. Song ta sở hữu cả một vốn liếng gien, vốn liếng bản sắc của ta vô cùng sâu lắng, vô cùng dai bền, không việc gì phải e ngại! Thử xem, mình bắt chước ăn cá sống với mù tạt theo kiểu Nhật, nhưng thêm vào đấy là rau diếp cá, lá cải xanh, củ cải sống. Mình hát nhạc pop, nhạc rock, song giai điệu và cách thể hiện thì chẳng giống ai. Thậm chí, ở những sân bay quốc tế này nọ, cứ gặp dăm ba đồng bào mình túm tụm, là nhận ra ngay. Ấy là trong cuộc sống thường nhật, chứ ở những phạm trù lớn lao như cách nghĩ, cách sống, cách phấn đấu… mình chẳng giống ai hết.
Một thành quả vững chắc nữa trong giữ gìn bản sắc là chúng ta không sợ toàn cầu hóa tấn công mà còn tấn công ngược lại nó. Xin nêu hai ví dụ: thức ăn và y phục.
Thức ăn là yếu tố mạnh nhất trong bản sắc, cho nên nó phát triển với toàn cầu hóa. Su-si của Nhật ngày nay toàn cầu hóa thực đơn khắp năm châu bốn biển. Mà đơn giản quá: chỉ chút cơm bọc rau câu. Thế giới nhà giàu càng chán mỡ càng chuộng su-si. Nắm yếu điểm đó, su-si tiến công trên thị trường chuộng thức ăn nhẹ: nó đùa với cái bao tử, hư hư thực thực, ăn vào như có như không.
Phở của ta bây giờ cũng thế, cũng toàn cầu hóa trong nhu cầu “fastfood”. Trái với su si, nó thực chất, làm một tô bự là giải quyết xong bữa trưa, mà mùi vị lại đậm đà, kích thích. Chưa nói đến chả giò (nem rán) chẳng những đi vào các nhà hàng sang trọng mà còn đi vào tận căn-tin của các trường học, các xe đẩy trên đường phố. Học trò thấy nem rán, chưa ăn đã thèm chảy nước miếng.
Nhưng dù là nem rán hay phở, dù phở do bếp Tàu nấu hay dù nem rán đang lai giống với bánh tráng Thái Lan, cái đặc biệt, cái khác với Tàu, với Thái của Việt Nam, cái làm cho món ăn Việt Nam được ưa chuộng trên thế giới, cái làm cho con người Việt Nam muôn đời vẫn tự định nghĩa mình là Việt Nam bất chấp không gian, bất chấp luật quốc tịch, vẫn là cái đó, cái mùi thum thủm, cái vị mặn mặn, mà nếu thiếu nó cuộc đời nhạt nhẽo như thiếu tố quốc: “cái chai nước mắm”, nước mắm là đại nguyên soái bách chiến bách thắng. Thực dân, đế quốc, bá quyền, Bắc thuộc, Tây thuộc... chẳng coi nó ra gì. Nhưng đối với Việt Nam đó là “bản sắc”.
“Áo dài” là y phục của dân tộc, là yếu tố then chốt thứ hai của bản sắc. Aó dài tuy không phải là truyền thống lâu đời, chỉ là y phục cải cách từ những năm 1930 thôi, cũng là thời trang chế biến để thích nghi với thời đại mới. Nhưng nó thành công bao nhiêu, thân thương bao nhiêu, yêu kiều ban nhiêu, thích hợp bao nhiêu! Nó đi vào lòng dân tộc như thể nó đã được khai sinh từ thuở dân tộc còn nằm nôi. Và nó hãnh diện phất phới trên thế giới, thế giới thán phục nó. Ngày nay, thời trang tha hồ vẽ vời, thêm bớt, nhân lên nhiều kiểu mới, nhưng nó vẫn là nó, vẫn là nhan sắc vô địch. Cái gì hợp với dân tộc qua bao nhiêu thử thách, cái ấy là bản sắc, cái ấy không sợ ma nào ám, kẻ cướp nào lấy! Như vậy thì chẳng sợ ai. Như chén nước mắm. Như chiếc áo dài. Muôn đời của dân tộc.
2.4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay.
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt chúng ta cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trong xây dựng, nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng ta nhất định phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào ''Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá'' gắn chặt với cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống, làm chuyển biến mạnh mẽ công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên.
Chúng ta phải gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ trung tâm xây dựng kinh tế và nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng, bảo đảm hoạt động văn hoá tiến hành đồng bộ với hoạt động kinh tế, hình thành nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội. Cũng cần nói thêm rằng, để thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và phát triển văn hoá, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người với những đức tính cơ bản, tốt đẹp, chúng ta phải xây dựng và phát triển hài hoà các nhiệm vụ khác, từ xây dựng môi trường văn hoá, phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá đến việc bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số, chính sách văn hoá đối với tôn giáo và hợp tác quốc tế về văn hoá...
Chúng ta tiếp tục tăng cường các nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá, trước hết và tăng mức đầu tư từ ngân sách cho phát triển sự nghiệp văn hoá đi đôi với việc huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực đó; sớm xây dựng và thực hiện chiến lược tuyển chọn, đào tạo, phát triển các tài năng văn hoá, nghệ thuật; tăng cường và đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với văn hoá.
Để làm được điều đó, trước hết là cán bộ, đảng viên, cần nâng cao nhận thức và trình độ lãnh đạo trên lĩnh vực văn hoá, song song với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ...; nêu cao tinh thần gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng theo phương châm ''nói đi đôi với làm”, đã nói là làm để cho các quyết định lần này được quán triệt trong từng cán bộ, đảng viên, nhất và cán bộ chủ chốt, và mọi tầng lớp nhân dân. Các cấp, các ngành cần có ngay các chương trình, kế hoạch và biện pháp cụ thể để đưa những nội dung đó thấm sâu vào từng địa phương, từng ngành, từng đơn vị, từng cộng đồng, từng gia đình, từng con người, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi, xây dựng con người mới và môi trường văn hoá mới phong phú, lành mạnh, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta. Nếu như mỗi ngày, mỗi người chúng ta đều làm được một việc tốt hay vài ba việc tốt, và toàn xã hội đều làm như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ đẩy lùi được các hiện tượng tiêu cực, làm cho xã hội ta ngày càng tốt đẹp hơn, nền văn hoá của chúng ta ngày càng được nâng cao hơn.

KẾT LUẬN.
Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật. quá trình phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng không bao giờ đi theo đường thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp trong đó bao gồm nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước. Vì vậy, quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó. Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điều tiết của nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách quan. Dân tộc Việt Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không thể nằm ngoài quĩ đạo đó. Hội nhập là con đường tất yếu, là lẽ sống còn của cả dân tộc. Vấn đề đặt ra là chúng ta hội nhập như thế nào. Rõ ràng, chúng ta với tư thế chủ động, hội nhập trên cơ sở tự khẳng định mình, nổ lực để vượt lên chính mình, nghĩa là, thông qua quá trình hội nhập, chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn, có ý thức hơn trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Đồng thời trong quá trình đó, chúng ta sẽ thấy được những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản trở sự tiến bộ để tìm cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, trên cơ sở bảo tồn bản sắc dân tộc, giữ lấy những gì là tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố lỗi thời, tăng cường giao lưu, học hỏi với bên ngoài thì sẽ vượt qua được những thử thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống. Với tinh thần và bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”, kết hợp sức mạnh dân tộc với những ưu thế của thời đại để phát triển đất nước và từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân tộc mình trước cộng đồng./.



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc - Nguyễn Văn Huyên.

2/ Bản sắc và toàn cầu hóa - GS. Cao Huy Thuần

3/ Đừng quá sợ đánh mất bản sắc dân tộc - Kim Hạnh

4/ Một văn hóa mới cho hội nhập hôm nay - Nguyên Ngọc


5/ Bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam - GS. Minh Chi (Học viện Phật giáo Việt Nam)

Quy luật phủ định của phủ định - ý nghĩa phương pháp luận áp dụng thực tiễn vào tình hình kinh tế nước ta hiện nay

Quy luật phủ định của phủ định - ý nghĩa phương pháp luận áp dụng thực tiễn vào tình hình kinh tế nước ta hiện nay
Quy luật phủ định của phủ định là phủ định biện chứng để phát triển, cứ sau mỗi lần phủ định là xã hội sẽ phát triển thêm một bước. Trong công cuộc đổi mới của đất nước, để phát triển đất nước là phải giải quyết mâu thuẫn.
Qua gần 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Song, để đưa công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên, chúng ta phải giải quyết rất nhiều mâu thuẫn phức tạp mà trong bài viết này mới điểm danh đại thể 8 mâu thuẫn. Việc giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn là điều kiện căn bản để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới.

Nhà triết học Hêgen đã khẳng định: Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn. Thực tiễn phát triển đất nước ta hiện nay một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của luận điểm đó.

Qua gần 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc hiện thực hoá đường lối đó, chúng ta đã đạt dược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng. Nền dân chủ XHCN với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định trên những đường nét cơ bản. Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự thống nhất trong đa dạng đã hình thành. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng được củng cố, thực sự trở thành một động lực quan trọng của đổi mới đất nước.

Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân với lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại ngày càng đủ mạnh để bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống yên lành của nhân dân. Nền ngoại giao độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam sắn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế đã phát huy vai trò to lớn của mình trong đổi mới đất nước. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, đủ sức gánh vác được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc ta giao phó. Những thành tựu đó đã làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Những bài học được rút ra từ 20 năm đổi mới giúp chúng ta hoàn thiện hơn nữa đường lối, chủ trương, chính sách và cách thức triển khai trong tổ chức thực tiễn sẽ góp phần đẩy mạnh hơn sự phát triển của đất nước. Sắp tới, việc tham gia WTO là bước hội nhập kinh tế quốc tế ở tầm cao nhất về cấp đối tác sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển...

Đó là những yếu tố quan trọng để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Song, bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được sau gần 20 năm đổi mới, vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm làm gay gắt những mâu thuẫn của quá trình phát triển.

Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Khó khăn này sẽ tăng lên rất lớn, đặc biệt là đối với doanh nghiệp, khi AFTA có hiệu lực đầy đủ đối với nước ta và nước ta chính thức gia nhập WTO. Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước để phát triển kinh tế chưa được huy động và sử dụng tốt. Thất thoát, lãng phí trong quản lý kinh tế, đặc biệt trong quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý doanh nghiệp Nhà nước còn rất nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính trong hệ thống chính quyền chưa đạt yêu cầu đề ra. Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm hoặc chưa giải quyết tốt.

Từ đó, có thể thấy, để đưa công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên, chúng ta phải giải quyết rất nhiều mâu thuẫn phức tạp, trong đó nổi lên những mâu thuẫn sau:

1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với sự bất cập của cơ chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện nay.

Để đạt mục tiêu đến năm 2010 thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển, tốc độ phát triển kinh tế thời gian tới phải đạt mức trung bình khoảng 8%/năm(1). Chỉ bằng cơ chế, chính sách như hiện nay, chúng ta khó có thể thực hiện phát triển đột biến về khả năng khai thác những tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động trong nước, về khả năng tận dụng những cơ hội quốc tế để gia tăng mạnh và sử dụng tốt các nguồn lực từ bên ngoài. Nền kinh tế hiện vẫn rất dễ bị tổn thương trước tác động không lớn lắm của những biến đổi kinh tế bên ngoài. Khoảng cách về kinh tế giữa nước ta với nhiều nước trong khu vực và thế giới ngày càng mở rộng. Sự tụt hậu trên lĩnh vực này chưa được ngăn chặn.

2. Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN với những hạn chế trong việc tìm ra quyết sách khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường.

Tính ưu việt của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thể hiện ngày càng đậm nét trước hết và chủ yếu ở khả năng bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, trong khi đó, chúng ta chưa tìm được những giải pháp hữu hiệu để giải quyết những hậu quả xã hội do tác động tiêu cực của những mặt trái thuộc kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra. Nhiều vấn đề xã hội có xu hướng ngày càng gay gắt. Đặc biệt, điều làm cho nhân dân hết sức bất bình, lo lắng là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân, suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của .một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất nghiêm trọng. Văn hoá lai căng có xu hướng phát triển. Hiện tượng ma chay, cưới xin, hội hè với nhiều hủ tục được khôi phục ở nhiều nơi. Đạo lý xã hội, gia đình xuống cấp. Tình huống mất ổn định cục bộ có khả năng xảy ra nhiều hơn, mức độ phức tạp của tình hình gia tăng hơn... Chúng ta chưa tìm được những phương hướng ngăn chặn có hiệu quả tình trạng đó.

3. Mâu thuẫn giữa tính tất yếu khách quan phải nâng cao sự đồng thuận xã hội trong đổi đất nước với sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân là một điều kiện tất yếu để đưa công cuộc đổi mới tiến lên mạnh mẽ hơn. Nhưng, cùng với những yếu kém của chính chúng ta, thì sự tác động của các thế lực thù địch nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình" đối với nước ta bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp và phương tiện, cả trực tiếp lẫn gián tiếp qua một số phần tử cơ hội về chính trị để chống phá trên lĩnh vực tư tưởng -lý luận đã làm cho một bộ phận cán bộ, Đảng viên và nhân dân phân tâm... Chúng ta có phần còn lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này.

4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực chính trị với lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trong khi cuộc sống đòi hỏi phải thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhân dân, phát huy đóng góp của nhân dân vào việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, thì tình trạng thờ Ơ chính trị, chỉ lo vun vén cho lợi ích của bản thân và gia đình, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân có chiều hướng gia tăng. Chúng ta chưa tìm được cách để khắc phục tình hình này với hiệu quả cao.

5. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị với sự thiếu hụt trong những biện pháp mang tính đột phá trên lĩnh vực này.

Công cuộc đổi mới kinh tế đã phát triển tới mức đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, sự kết hợp hài hoà hơn nữa giữa các bộ phận cấu thành hệ thống đó, song, chúng ta chưa có những đột phá trên lĩnh vực này. Đã có nhiều nghị quyết, nhiều chủ trương chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhưng hiệu quả thực tiễn còn thấp. Bộ máy của hệ thống chính trị còn quá cồng kềnh, cơ chế vận hành chưa thật khoa học, tình trạng lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị còn xuất hiện ở nhiều cấp, nhiều địa phương. Việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm. Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đủ mạnh, phương pháp hoạt động của nhiều cán bộ đảng, đoàn thể còn trong tình trạng viên chức hoá... Sự yếu kém đó, nếu không được khắc phục có hiệu quả, thì một số phương diện của hệ thống chính trị sẽ trở thành lực cản lớn đối với đổi mới trên lĩnh vực kinh tế.

6. Mâu thuẫn giữa quá trình phát triển dân chủ với tình trạng thiếu giá đỡ về lý luận và thực tiễn cho quá trình đó.

Dân chủ hoá đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới. Nhưng chúng ta chưa tìm được những giải pháp tất nhất để xác lập vững chắc quan điểm khoa học về dân chủ phù hợp với điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, không đa nguyên về chính trị, không tổ chức quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, chưa tìm được những cơ chế và hình thức thực hiện dân chủ thích hợp với truyền thống văn hoá chính trị, với trình độ dân trí, trình độ văn hoá chung của nhân dân. Dân chủ trong Đảng, trong xã hội và ở cơ sở tuy đã được nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng và các văn bản pháp quy của Nhà nước, nhưng kết quả đạt được trên thực tế còn nhiều hạn chế. Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Chưa có cơ chế để bảo đảm quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, vai trò giám sát thực hiện quyền kiểm tra của nhân dân đối với chính quyền và cán bộ, Đảng viên còn mờ nhạt.

7. Mâu thuẫn giữa tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với khả năng giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội nhập.

Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một nhân tố tất yếu để phát triển, nhưng chúng ta còn thiếu nhất quán và lúng túng, bị động trong việc xử lý mối quan hệ giữa mặt tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữa độc lập tự chủ về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, lúng túng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hội nhập đồng thời nhiều cấp độ hơn, sâu hơn, rộng hơn, đa dạng hơn... với việc giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc.

8. Mâu thuẫn giữa việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng nhân tố quyết định thành công sự nghiệp đổi mới với tình trạng một số mặt của Đảng chưa thật ngang tầm trước đòi hỏi của tình hình.

Để đổi mới thành công, điều kiện tiên quyết là phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều đó chỉ có được duy trì được với tiền đề: Đảng phải vững vàng về chính trị - tư tưởng, mạnh về tổ chức và cán bộ, trong sạch về đạo đức, lối sống, đứng ở tầm cao về trí tuệ, có phương thức lãnh đạo thực sự khoa học. Yêu cầu đó đặt ra trong tình hình Đảng đang đứng trước sự bất cập không nhỏ trên hầu hết các phương diện đó.

Đảng ta nói chung, hầu hết cán bộ, đảng viên nói riêng kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì đổi mới vì chủ nghĩa xã hội... song, cũng có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thậm chí cả một bộ phận tổ chức đảng phai nhạt lý tưởng, rơi vào dòng xoáy của thị trường, bệnh tham nhũng chưa có dấu hiệu suy giảm, một bộ phận sa đoạ về đạo đúc, lối sống. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu đề ra. Những yếu kém này đã và đang làm suy giảm một cách đáng kể mềm tin của một bộ phận nhân dân vào tiền đồ của đổi mới, vào vị trí của Đảng ta. Đó là nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế độ.

Sự tiên phong về lý luận là biểu hiện tập trung nhất sự tiên phong của Đảng. Nhưng, ngay trên lĩnh vực quan trọng này cũng có những hẫng hụt không nhỏ. Sự phát triển lý luận chưa đủ cung cấp cơ sở khoa học cho việc tìm ra những lời giải đáp đúng đắn, kịp thời nhằm giải quyết có hiệu quả những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn trên đây đang là một trở ngại lớn cho việc tiếp tục đẩy mạnh quá trình đổi mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy sau 20 năm đổi mới, nhiều vấn đề lý luận về CNXH và con dường đi lên CNXH ở nước ta đã được làm sáng tỏ hơn, song cũng còn không ít vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Chẳng hạn:

Toàn cầu hoá kinh tế kéo theo toàn cầu hoá trên nhiều lĩnh vực khác. Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải hội nhập trên nhiều lĩnh vực khác, kể cả lĩnh vực văn hoá, chính trị. Chẳng hạn, để làm ăn kinh tế với nhau, chúng ta phải điều chỉnh hệ chuẩn pháp luật kinh tế, làm cho nó tương thích với hệ chuẩn kinh tế của nước đối tác mà phần lớn là tư bản chủ nghĩa: Từ giác độ lý luận, độc lập, tự chủ trên các lĩnh vực này được hiểu như thế nào, từ đó, thiết kế thực tiễn ra sao?

Những yếu tố quan trọng nhất quyết định tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta là gì? Phải chăng, đó là: mục tiêu phát triển vì con người, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lại có ý kiến cho rằng, tiến bộ và công bằng xã hội là mục tiêu quan trọng nhất, thể hiện tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Phải đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận các cơ hội và nguồn lực để phát triển, trong phân bổ nguồn lực quốc gia, phân phối kết quả làm ra, thực hiện điều tiết xã hội và phân phối lại.

Có cái gọi là những cơ chế vận hành có tính quy luật, tất yếu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không, hay chỉ có những cơ chế vận hành có tính quy luật, tất yếu của nền kinh tế thị trường, không tuỳ thuộc vào chế độ xã hội? Nếu có sự phụ thuộc vào tính chất xã hội, thì tính đặc thù của những cơ chế đó ở nước ta là gì?

Nhà nước đóng vai trò như thế nào trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN? Phải chăng, Nhà nước chỉ đóng vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và phát huy các nguồn lực đầu tư phát triển hay còn phải trực tiếp quản lý doanh nghiệp Nhà nước và phần Nhà nước trong các loại doanh nghiệp khác?

Sở hữu và thành phần kinh tế vẫn là vấn đề lớn. Phân định sở hữu như thế nào, 3 hình thức (toàn dân, tập thể, tư nhân) hay 4 hình thức (toàn dân, tập thể, tư nhân, hỗn hợp), thậm chí là 5 hình thức (toàn dân, tập thể, tư nhân, hỗn hợp, sở hữu của nước ngoài đang đầu tư ở nước ta, trong đó có thể có phần thuộc sở hữu Nhà nước của nước ngoài)? Hơn nữa, nên gọi là "sở hữu toàn dân" hay để làm rõ trách nhiệm và quyền hạn của người sở hữu, nên xác định là "sở hữu Nhà nước"? Có nên phân định thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân không? Hay nên phân định khu vực kinh tế, hoặc phân định theo quy mô sản xuất - kinh doanh để dễ quản lý Nhà nước như hiện nay bên Nhà nước vẫn phân định? Giải quyết như thế nào yêu cầu xoá bỏ triệt để mọi hình thức phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế với tính tất yếu phải "đỡ đầu” cho một số loại doanh nghiệp thiết yếu cần cho quốc kế dân sinh nhưng hiệu quả kinh tế thấp?

Ngoài vai trò của các nhân tố chính trị, không có vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước thì không giữ vững được định hướng XHCN trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Nhưng, hiểu như thế nào về vai trò "chủ đạo" của kinh tế Nhà nước, khi mà ở khu vực này, rất nhiều doanh nghiệp làm ăn với hiệu quả và sức cạnh tranh thấp? Điều đó không chỉ ở nước ta, mà là hiện tượng tương đối phổ biến ở ngay những nước có nền kinh tế phát triển thuần thục như những nước tư bản phát triển. Đây vẫn tiếp tục là vấn đề trọng đại và bức xúc của đất nước trong nhiệm kỳ Đại hội X, vì nhiều doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã vẫn đang trong tình trạng làm ăn kém hiệu quả, tham nhũng nặng nề và tình trạng mất đoàn kết trong bộ máy quản lý đang là phổ biến.

Hướng phát triển tới là thu hẹp hơn nữa diện doanh nghiệp Nhà nước, tập trung vào một số lĩnh vực mà doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn. Song, trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, nếu doanh nghiệp tư nhân được làm thì phần lớn lại có hiệu quả cao hơn. Vậy, về mặt lý luận, giải quyết vấn đề này như thế nào?

Thực tiễn 20 năm đổi mới cho thấy rằng, kinh tế tư nhân là một động lực khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội để phát triển kinh tế, tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, là một động lực rất quan trọng để phát triển nền kinh tế nước ta. Song, giải quyết như thế nào về mối quan hệ, sự tương hợp giữa kinh tế tư nhân là phổ biến với chế độ chính trị XHCN, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân?

Đại hội IX đã xác định mục tiêu: "Đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Nhưng, điều chưa rõ là lấy những tiêu chí nào để có thể xếp một nước vào hàng ngũ các nước công nghiệp hay hàng ngũ các nước công nghiệp theo hướng hiện đại, và đến đâu thì có thể coi là cơ bản trở thành một nước công nghiệp hay một nước công nghiệp theo hướng hiện đại? Nếu không làm rõ vấn đề này, ít nhất là về những tiêu chí chính, thì sẽ không có cơ sở để Đại hội X xác định được mục tiêu cụ thể cho năm 2010 thoát khỏi nước nghèo, kém phát triển, "tạo nền tảng" để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp và bước đi cho các giai đoạn từ 2010 đến 2020.

Để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả cao hơn, vấn đề hàng đầu đặt ra là cần làm rõ hơn những yêu cầu, nội dung của nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là thế nào? Đặc biệt là cần xác định cụ thể hai nhóm vấn đề then chốt liên quan đến phạm vi và mức độ của tính độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế là: những vấn đề gì là những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh cần cương quyết giữ vững, không được phép nhân nhượng trong các quan hệ hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế, những vấn đề gì, mặc dù cũng rất quan trọng, nhưng có thể nhân nhượng có mức độ đủ phù hợp với quy định và thông lệ quốc tế để đem lại lợi ích cho đất nước? Hơn nữa, có nên thay khái niệm "nền kinh tế độc lập tự chủ" bằng khái niệm "nền kinh tế tự chủ" không, khi khái niệm "độc lập” thường chỉ dùng theo nghĩa về mặt chính trị.

Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực, những vùng có điều kiện phát triển thuận lợi, thù lao cao cho người làm ăn có hiệu quả... Nhưng, vì vấn đề xã hội, có khi lại không thể làm như thế. Vậy, giải quyết như thề nào mối quan hệ này để vừa có sự phát triền kinh tế thị trường nhanh, vừa giải quyết tốt vấn đề xã hội? Tổng quát hơn, những điều kiện cơ bản bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển ở nước ta là gì? Xử lý như thê nào mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân hoá giàu nghèo trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta?

Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, sớm quyền hạn của các cơ quan Nhà nước theo phá cách nào để khỏi chồng chéo? Chẳng hạn theo quy định của Hiến pháp và luật hiện hành, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, nhưng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng có quyền ban hành các nghị định độc lập. Trên thực tế các quy định của pháp lệnh và nghị định cùng có hiệu lực thi hành. Cùng với thẩm quyền lập pháp, Quốc hội lại còn có các thẩm quyền khác như thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (các công trình lớn, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước...), thẩm quyền liên quan đến tư pháp như quyết định đại xá, bầu Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... Giải quyết như thế nào địa vị phán lý của Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất? Nói cách khác, cẩn làm rõ quan điểm về sự thống nhất quyền lực Nhà nước, đồng thời, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

“Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn. Những mâu thuẫn sinh động thì muôn hình, muôn vẻ, dồi dào hơn nhiều so với điều mà người ta suy nghĩ ban đầu” (Hêgen). Một số mâu thuẫn và vấn đề có tính mâu thuẫn nêu trên không phải là tất cả những mâu thuẫn đang có trong quá trình đổi mới hiện nay ở nước ta. Song, việc điểm danh một cách đại thể như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy tính phức tạp của tình hình mà chúng ta đang phải giải quyết.

Việc giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn và những vấn đề có tính mâu thuẫn trên đây là một điều kiện căn bản để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển.




--------------------------------------------------------------------------------

(l) Hội nghị Trung ương 12 khoá IX (tháng 7/2005) chủ trương giai đoạn 2005 - 2010, GDP bình quân tăng 7,5% - 8%/năm, cố gắng phấn đấu đạt trên 8%/năm.

Theo Tạp chí Triết học

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Sở hữu: Toàn dân hay quốc gia? - 1 Tầm nhìn hay tôi thật sự đồng ý

Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

TBKTSG đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, trưởng nhóm chuyên gia của báo cáo, về vấn đề này.

Báo cáo của nhóm chuyên gia đã đưa ra nhiều đề xuất táo bạo. Tuy nhiên, không rõ là nhóm đã dựa trên nền tảng lý luận nào? Hay nói cách khác, những đề xuất ấy liệu có đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?

Trung ương Đảng có hẳn một nghị quyết bàn về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về vấn đề này, nhìn chung có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất, định hướng xã hội chủ nghĩa nghĩa là phải sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, khống chế sở hữu tư nhân và kiểm soát kinh tế tư bản.

Cách tiếp cận thứ hai là theo định lượng. Ví dụ: người nghèo phải được giúp đỡ; những đối tượng dễ bị tổn thương phải được đảm bảo về an sinh phúc lợi; việc phát triển phải đảm bảo bền vững; phân bổ phúc lợi phải đồng đều...

Muốn phúc lợi được phân bổ một cách tương đối công bằng, thì nguồn tài nguyên quốc gia phải được quản lý và các thế hệ phải có quyền kiểm soát. Những nhóm lợi ích ngày càng thao túng chính sách phải được kiểm soát, còn những nhóm không có tiếng nói hoặc tiếng nói yếu ớt cần phải được nâng đỡ. Nhóm chuyên gia chúng tôi đang đi theo hướng thứ hai.

Một trong những đề xuất quan trọng của nhóm là bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay vào đó là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Ông có thể giải thích kỹ hơn về đề xuất này?

Sở hữu toàn dân là một khái niệm được chính trị hóa, khiến cho nó trở nên không rõ ràng. Do đó, khi triển khai vào các khái niệm pháp lý thì không dùng được vì không thể xác định ai có chủ quyền thực sự. Tiếp nữa là khi khái niệm không rõ thì nó tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích kiểm soát được tài nguyên, biến những tài nguyên của quốc gia trở thành của tư.

Tôi lấy ví dụ, hôm rồi tại cuộc hội thảo người ta tranh luận về trường hợp bán trụ sở ở 48 Hàng Bài, Hà Nội. Nguyên đây là một chỗ rất đẹp, trước kia cơ quan xuất nhập cảnh, Bộ Công an dùng làm trụ sở, nhưng mới đây nó đã được bán cho tư nhân. Lập tức một câu hỏi đặt ra: Liệu cơ quan nhà nước có quyền bán trụ sở không? Ví dụ nhỏ nói trên cho thấy khái niệm toàn dân thật sự không giúp xác định rõ ràng ai là chủ cả. Không rõ ràng nên không dùng được. Vì vậy, cần sử dụng khái niệm khác.

Khái niệm sở hữu quốc gia mà chúng tôi đề xuất thực ra đã có trong Hiến pháp 1946. Mặt khác, sở hữu quốc gia phải được hiểu là tài sản bao gồm của nhiều thế hệ gộp lại.

Lấy ví dụ như bờ biển chẳng hạn. Chắc chắn nó không phải chỉ của thế hệ ngày nay mà là của hàng bao thế hệ cha ông mình đã giành được, đồng thời nó cũng phải được để dành cho các thế hệ mai sau. Nay bờ biển được khoanh lại, biến thành những resort như ở Mũi Né, Bình Thuận, hóa ra của cải của cả dân tộc đã biến thành tài sản tư, tài sản của một vài ông chủ.

Thật khó tưởng tượng là ngay cả kênh nước thải cũng bán luôn cho tư nhân. Ở Hà Nội, có những nơi như trên đường Phan Kế Bính, tư nhân mua những đoạn kênh thoát nước rồi đổ bê tông lên phía trên, sau đó cho người khác thuê lại làm mặt bằng kinh doanh. Nếu kể ra hết thì đây thực sự là một cuộc chuyển đổi từ của công sang của tư với quy mô khổng lồ chính vì sở hữu không rõ ràng.

Khác với sở hữu toàn dân, khi xác lập sở hữu quốc gia thì chúng ta minh định được tài sản ấy là của dân tộc, có tính kế thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác, tức là mang tính trường tồn và khi muốn sử dụng tài sản ấy thì phải có thái độ đối với các thế hệ.

Trong sở hữu quốc gia, chúng tôi chia thành hai loại. Loại thứ nhất, ví dụ như bờ biển, thuộc sở hữu của chính quyền trung ương. Loại thứ hai, những tài sản thuộc sở hữu của chính quyền địa phương, ví dụ: nhà máy thoát nước, kênh rạch, trụ sở của các sở...

Chúng tôi xin lưu ý, mục đích xác lập sở hữu quốc gia ở đây không phải để thay đổi hình thức sở hữu mà mục đích là làm rõ ai là chủ của khối tài sản.

Vậy ai sẽ quản lý những khối tài sản ấy?

Đã là của dân thì dân phải quản! Nhưng quản thông qua đại diện, tốt nhất là một ủy ban quản lý công sản độc lập, chuyên nghiệp, tương tự như quỹ tín thác vậy. Tổ chức này được giao nhiệm vụ quản lý công sản và chịu trách nhiệm trước cơ quan dân cử (Quốc hội, hội đồng nhân dân). Đây là mô hình không do chúng tôi tự nghĩ ra mà thực tế đã có ở Trung Quốc, Úc, Singapore...

Lúc này, vai trò của Chính phủ với tài sản quốc gia sẽ như thế nào?

Chính phủ sẽ mất vai trò như là tổng quản đối với khối tài sản công. Chính phủ không được tùy tiện vì tài sản này là của toàn dân. Chính phủ là những nhà chính trị nên họ luôn luôn muốn đầu tư để có lợi cho các cử tri của họ nhằm được tái bổ nhiệm. Để tránh hiện tượng đó, phải tách khối tài sản đó ra khỏi Chính phủ.

Đương nhiên, Chính phủ có quyền đề xuất. Ví dụ, chúng tôi cần từng này tiền để mua tàu ngầm. Đề xuất của Chính phủ sẽ được trình cho cơ quan dân cử và có thể được chấp nhận. Như vậy, không ai cấm Chính phủ không được quyền sử dụng tài sản công nhưng quy trình sử dụng đó phải được minh bạch và thông qua cơ quan dân cử.

Quay lại trường hợp bán trụ sở 48 Hàng Bài. Liệu Chính phủ hay một cơ quan nào đó của chính quyền có tài sản riêng của mình và có quyền bán tài sản đó hay không?

Nhiều quốc gia, họ quy định thế này: một sở không phải là một pháp nhân, chính quyền thành phố mới là một pháp nhân. Do đó, sở không có quyền bán trụ sở của mình cho người khác vì tài sản ấy là của chính quyền thành phố. Muốn bán thì phải báo cáo, xin phép cơ quan quản lý công sản thành phố và cũng chỉ có cơ quan này mới được quyền bán.

Tương tự, một bộ hay bất kỳ một cơ quan nào khi đụng chạm đến tài sản công cũng buộc phải hành xử như vậy.

Nhà nước hiện đang nắm giữ một khối tài sản khổng lồ là vốn đầu tư trong các doanh nghiệp nhà nước. Xử lý khối tài sản này ra sao?

Đảng đã từng chỉ đạo tách quản lý hành chính ra khỏi kinh doanh. Tuy nhiên đây là việc vô cùng khó. Như một bộ có 200 doanh nghiệp thì phần phúc lợi nộp lại cho bộ cũng đủ giúp cho nhân viên của bộ tiền ăn trưa. Nay cúp cái đó đi thì anh em họ không có tiền ăn trưa nữa cũng là phiền toái rồi.

Ý tôi muốn nói rằng 20 năm vừa rồi không thể tách được vì các lợi ích giằng xé, đan xen nhau. Nhưng chúng ta không thể để duy trì tình trạng này mãi. Kinh doanh không ra hồn mà làm chính sách cũng chẳng ra hồn. Một bộ như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tới 250 doanh nghiệp thì chỉ riêng việc trình báo cáo kế hoạch, dự án, nhân lực... đã hết hơi rồi.

Quay lại đề xuất của chúng tôi. Đó là phải thiết lập một thiết chế công quản nằm ngoài Chính phủ, khối tài sản này do Quốc hội, các hội đồng nhân dân kiểm soát. Vốn đầu tư trong các doanh nghiệp nhà nước cũng không nằm ngoài phạm vi quản lý này. Khi đó, Quốc hội sẽ đưa ra các yêu cầu để sử dụng nguồn vốn đầu tư hiệu quả.

Tuy nhiên, hiệu quả ở đây không có nghĩa là nhất thiết phải có lãi mà phải theo yêu cầu của cử tri. Ví dụ in sách giáo khoa thì phải cung cấp đủ cho học sinh ở tất cả các nơi, hoặc kinh doanh điện thì phải kéo được về nông thôn... Nghĩa là có thể phải bù lỗ.

Về lâu dài, Nhà nước cũng chỉ nên đầu tư vào một số lĩnh vực tối cần thiết như cơ sở hạ tầng, điều phối sân bay, định chuẩn, an toàn hàng hải... Còn những lĩnh vực mà tư nhân người ta làm rồi Nhà nước không nên cạnh tranh. Ví dụ như may mặc.

Tiến Tài (TBKTSG)

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Những bước chuẩn bị để đào tạo lãnh đạo kế cận

Lập kế hoạch đào tạo nhân tài (khách quan nha chủ quan hay cơ cấu sẵn khỏi phải đọc)

Định ra nhu cầu cụ thể về thế hệ lãnh đạo tiếp theo

Cần nắm chắc kế hoạch phát triển của doanh nghiệp để từ đó biết rằng trong quá trình phát triển sắp tới doanh nghiệp cần những quản lý có thế mạnh gì, năng lực ra sao? Cần số lượng bao nhiêu? Đào tạo theo cách nào? Phân rõ các tầng thứ lãnh đạo trong công ty? Định hướng phát triển nhân lực chung?.

Nêu bật những tố chất của nhà lãnh đạo tương lai là nhiệm vụ quan trọng nhất. Vừa có năng lực vừa có trách nhiệm là điều cần thiết, song đó chỉ là cách nói chung chung. Phẩm chất này có thể biểu hiện qua những đặc điểm sau:

+ Khả năng thích nghi cao

+ Khả năng học tập tốt

+ Khả năng tập hợp tốt

+ Khả năng giao tiếp tốt

+ Khả năng ra quyết định tốt

+ Khả năng chứng tỏ bản thân tốt

+ Quan sát tổng hợp tốt

+ Chân thực thẳng thắn

+ Có đủ dũng cảm đương đầu thử thách, đối mặt khó khăn

+ Chăm chỉ, chịu khó, chịu khổ.

Ngoài ra, còn có 3 điểm chú ý trong việc lựa chọn nòng cốt cho đào tạo lãnh đạo tương lai: người đó phải làm trong công ty một thời gian tương đối dài, nắm rõ tình hình công ty; có những thế mạnh thực sự nổi bật; là mẫu người rộng mở hướng ngoại.

Công khai thông báo

Hãy thông báo rộng rãi thông tin về kế hoạch phát động, tiêu chuẩn, nội dung đào tạo cho toàn công ty để ngay cả những nhân vật mới gia nhập cộng đồng này cũng xác định cho mình hướng phát triển hợp lý đồng thời có điều kiện tiến cử những nhân vật họ cho là xứng đáng.

Khi đã chọn được cũng nhanh chóng tiến hành thông báo rộng rãi về danh sách này, tập hợp sớm và tổ chức đào tạo ngay khi họp mặt. Trong quá trình đào tạo, chương trình học cũng được công bố để học viên sẵn sàng trước mỗi giờ học và những người khác trong công ty có thể tham gia đóng góp.

Thiết lập cơ cấu, chế độ cho lãnh đạo kế cận

Đây là phần rất quan trọng vì quyền lợi sẽ quyết định trách nhiệm và là động lực phấn đấu cho tất cả những ứng viên.

Khi đề ra kế hoạch tuyển người vào vị trí ứng viên cho các chức lãnh đạo tương lai, nhà lãnh đạo đã phải có một bản kế hoạch chi tiết về những chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho những người này. Kèm theo đó là trách nhiệm họ phải làm gì, chế độ học tập, những cơ hội làm việc mới, những người cộng sự...

Những lớp học này cần được tổ chức đều đặn để những người được chọn luôn có ý thức tập trung nâng cao kỹ năng, hoàn thành các bài tập của mình.

Đào tạo toàn diện

Chương trình đào tạo quản lý kế cận có thể tận dụng nguồn tài nguyên phong phú là các lãnh đạo cao cấp của công ty vì họ là những nhân vật vừa nắm được tình hình doanh nghiệp, vừa có nhiều kinh nghiệm.

Tuy nhiên cũng không thể thiếu sự tham gia của các chuyên gia ngành trong công tác giảng dạy vì những bài học của họ sẽ là sự định hướng phát triển chuyên môn phù hợp với xu hướng chung.

Người quản lý chương trình này cũng cần nhận ra những cá nhân xuất sắc và bổ nhiệm họ nắm giữ những vai trò tiên phong trong lớp học. Tuy nhiên, đừng khiến cho những đánh giá ban đầu này ảnh hưởng đến quá trình phấn đấu của các ứng viên tiềm năng. Điều đó có nghĩa là luôn đảm bảo có sự thay đổi về sắp xếp vị trí cùng với sự thay đổi của việc biểu hiện năng lực của những nhà lãnh đạo tương lại.

Quá trình đào tạo luôn đi kèm với một loạt các biện pháp thử thách để người học có những cơ hội thực hành luôn những điều đã học được. Yếu tố thực hành là phần quan trọng nhất của đào tạo lãnh đạo nên công ty cần ra quy định rõ về quyền hạn tối đa của các lãnh đạo tiềm năng xem họ làm được gì trong quyền hạn của mình.

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010

Gây dựng mạng lưới - không chỉ là mở rộng quan hệ

Gây dựng mạng lưới - không chỉ là mở rộng quan hệ (Phần 1)
Tác giả: Ariana Green (HBP)
Bài đã được xuất bản.: 19/03/2010 06:00 GMT+7
RecomendThanks+0RedIn Email Thảo luận TIN LIÊN QUANTạo mạng lưới hoạt động để phát triển nhân tài
Câu chuyện máy fax hay hiệu ứng mạng lưới
Mạng lưới nhân tài cho ngày mai
TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm) Chuẩn bị cho cuộc họp quyết định
Giám đốc IMF: Thế giới lắng nghe và học tập châu Á
Một tiêu chuẩn quốc tế về bình đẳng giới
Phân cấp lãnh đạo để nhân viên có vai trò lớn hơn
Mọi người có chiều hướng quên đi sự quan trọng của sự tín nhiệm lâu dài bởi vì họ quá tập trung vào những việc ngay trước mắt. Nhưng nếu cứ như vậy thì bạn chỉ ăn cái bạn săn được trong ngày hôm đó mà thôi." Thay vào đó hãy tập trung vào việc tạo dựng danh tiếng và sự tin tưởng thì một mối quan hệ lâu dài sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho các bên.

Thời điểm tốt nhất để xây dựng mạng lưới là trước khi bạn cần một điều gì đó; Và thời điểm tốt nhất để duy trì mạng lưới đó là mọi lúc. Nhưng đâu là cách tốt nhất để làm được điều đó? Chỉ đơn giản thu thập các danh thiếp và tham dự các sự kiện có thể mở rộng các mối quan hệ của bạn nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc những mối quan hệ đó sẽ mang lại lợi ích cho bạn trong tương lai. Để có được lợi ích của mạng lưới khi cần phải biết làm thế nào để mạng lưới đó làm việc cho bạn và làm thế nào để bạn có thể làm việc cho mạng lưới đó.

Chuyên gia nói gì?

Lời khuyên về mạng lưới được công nhận rộng rãi nhất là: Hãy đề nghĩ giúp đỡ người khác trước và họ sẽ giúp lại mình. Theo giáo sư, tiến sĩ Ivan Misner, tác giả của cuốn sách Networking Like a Pro: Turning Contacts into Connections (Mạng lưới chuyên nghiệp: Chuyển từ liên hệ sang liên kết) và chủ tịch tổ chức quốc tế mạng lưới toàn cầu BNI thì: "Bạn nên luôn hỏi những người liên hệ mới về những thách thức trong kinh doanh mà họ đang phải đối mặt. Từ đó, bạn có thể biết ai đó có thể giúp và đó cũng là sự khởi đầu của một mối quan hệ."

Misner hướng khách hàng tập trung vào việc giành được tín nhiệm mà theo ông sự tín nhiệm tăng khi họ có những cuộc gặp mặt, giữ đúng lời hứa, xác nhận sự thật và sẵn sàng giúp đỡ. Ông cảnh báo: "Không đáp ứng được những kỳ vọng - giữ được lời hứa - có thể giết chết một mối quan hệ mới trước khi nó kịp phát triển."

Mạng lưới tốt sẽ đảm bảo cho tương lai vì vậy Misner khuyên mọi người hãy nghĩ xa hơn những nhu cầu hiện tại. Ông nói: "Mọi người có chiều hướng quên đi sự quan trọng của sự tín nhiệm lâu dài bởi vì họ quá tập trung vào những việc ngay trước mắt. Nhưng nếu cứ như vậy thì bạn chỉ ăn cái bạn săn được trong ngày hôm đó mà thôi." Thay vào đó hãy tập trung vào việc tạo dựng danh tiếng và sự tin tưởng thì một mối quan hệ lâu dài sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho các bên.

Lillian Bjorseth, tác giả của cuốn Breakthrough Networking: Building Relationships That Last (Mạng lưới đột phá: Xây dựng mối quan hệ lâu dài) khuyên mọi người nên chia sẻ thông tin. Cô nói: "Một trong những phương pháp ưa thích của tôi là gửi cho ai đó một bài báo, bức ảnh, câu chuyện, mẹo marketing có liên quan hoặc các thứ khác thông qua email." Việc tiếp tục phát triển các mối quan hệ thông qua những điều tưởng như không quan trọng hoặc những cuộc nói chuyện tình cờ cũng quan trọng với thành công trong kinh doanh như việc đưa ra một sản phảm đáng tin cậy vậy.

Ảnh: assetstoledo.com

Hãy làm cho mọi người biết đến bạn

Là một chuyên gia về một vấn đề gì đó là không đủ nếu không có ai biết đủ rõ về bạn để nghĩ đến việc gọi bạn khi gặp vấn đề. Tạo ra một hình ảnh lôi cuốn, hấp dẫn cho bản thân bạn có thể mang lại công việc kinh doanh và nhiều cơ hội. Noshir Contractor, giáo sư về khoa học ứng xử tại trường đại học quản lý Kellogg, người đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu về mạng lưới kiến thức và xã hội nói: "Các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng mọi người có xu hướng tìm đến sự giúp đỡ của ai đó nếu người này không chỉ là một chuyên gia mà còn là người có những giao tiếp xã hội làm người khác thoải mái."

Mặc dù Facebook, LinkedIn, Twitter và những địa chỉ mạng lưới trực tuyến khác có thể làm bạn tốn thời gian nhưng mạng lưới trực tuyến có ích cho việc củng cố sự liên kết của bạn. Bằng việc dẫn đường liên kết đến những bài báo liên quan trên Facebook hoặc Twitter, bạn có thể tạo ra giá trị hữu ích nào dó cho những người bạn thực sự và cho thấy việc bạn quan tâm đến những vấn đề thích đáng. Viết bài và đăng tải lời bình luận cũng giúp việc tăng cường hình ảnh của bạn trong suy nghĩ của mọi người và giúp họ nhận thấy bạn tham gia vào lĩnh vực đó như thế nào. Đây là một cách hiệu quả để tiếp tục một mối quan hệ với những người bạn biết.

Nhưng giao tiếp trực tuyến không thì chưa đủ, đặc biệt là với những người bạn mới có mối liên hệ. Lợi ích thực sự là nó thường dẫn đến sự liên hệ trực tiếp bởi vì mọi người cảm thấy thoải mái hơn khi bắt đầu gặp với ai đó mà họ "biết" thông qua mạng lưới điện tử. Việc tìm kiếm và chấp nhận những cuộc gặp trực tiếp đặc biệt quan trọng với những mối liên hệ mới bởi vì công nghệ không bao giờ có thể phù hợp với mối liên hệ giữa con người với con người. Việc gặp gỡ trực tiếp cũng có hiệu quả với những mối liên hệ mà bạn đã biết nhưng trong trường hợp mọi người đều bận rộn thì việc gặp gỡ cá nhân với những mối liên hệ bạn chưa dành nhiều thời gian cho thì cấp thiết hơn.

Nghĩ đến cảm nhận của mọi người

Chuyên gia tâm lý James Waldroop, là một tác giả và cũng là CEO của Career Leader, một tổ chức đưa ra những đánh giá nghề nghiệp trên mạng được sử dụng rộng rãi trên thế giới bởi các chương trình kinh doanh và các công ty nói "Hiểu tâm lý - của chính bạn và người khác - cần được cấu thành trong chiến lược của bạn. Một số người thực sự bận rộn và vội vã hoặc họ không niềm nở cho lắm. Vấn đề là phải nghiên cứu khán giả và biết cách liên hệ với những người bạn không liên hệ thường xuyên."

Nhưng Waldroop cũng chỉ ra rằng thậm chí cả những người cộc cằn nhất cũng đánh giá cao sự giúp đỡ chân thành. Điều quan trọng là cần làm cho địa chỉ email và những cuộc gọi mang tính cá nhân. Ví dụ bạn có thể gửi một thư nói rằng: "Tôi biết con bạn sắp tốt nghiệp, vậy hãy cho tôi biết liệu tôi có thể giúp gì không, kể cả là rất ít" hoặc điều gì đó như: "Tôi đã nghĩ đến bạn và nhớ đến thời gian chúng ta cùng làm những việc đó và điều đó làm tôi cảm thấy vui."

Hoặc có thể: "Tôi nghe mọi người bảo rằng công việc kinh doanh của bạn đang gặp khó khăn, bạn biết đấy tôi từng gặp vấn đề này trước đó, vì vậy hãy gọi cho tôi nếu bạn muốn tâm sự, có lời khuyên hoặc bất cứ điều gì khác." Ngoài ra, ông gợi ý rằng một chút hài hước phù hợp cũng là một cách để bạn nhấn mạnh rằng bạn thực sự chân thành hoặc làm cho mọi người cảm thấy thoải mái.

Waldroop cũng khuyên rằng trong những trường hợp nhất định tốt nhất hãy gọi vào những giờ mà bạn biết rằng người đó sẽ không ở trong văn phòng để nghe điện thoại. Đó là cách bạn có thể để lại một tin nhắn ít mang tính xâm phạm đến việc riêng của người khác và bạn sẽ không bị ngắt lời trước khi nói được những gì bạn cần nói.

Theo giáo sư Contractor, cần phải xây dựng mạng lưới đa dạng. Những người đến từ các lĩnh vực khác nhau có nền tảng kinh tế xã hội khác nhau và đến từ các nước khác có thể mang lại những giải pháp sáng tạo và những mối liên hệ không dễ tìm từ một đồng nghiệp ngay bên cạnh.


Phát triển và duy trì mạng lưới

Contractor yêu cầu sinh viên tham gia vào bài tập sau để đánh giá một người duy trì mạng lưới của mình tốt như thế nào: Những sinh viên đưa ra một danh sách họ gọi là Ban quản trị, một bản liệt kê tên của những người họ biết rằng họ có thể gọi đến để tham khảo ý kiến về những vấn đề quan trọng. Sau đó, Contractor yêu cầu sinh viên viết tên người giới thiệu những nhân vật trong Ban quản trị với họ.

Ông mô tả: “Thường thì họ nhận thấy rằng, chỉ có một số người có tên trong danh sách những người giới thiệu họ với những người quan trọng nhất trong cuộc đời họ. Đó là những người mà họ cần củng cố mối quan hệ bởi vì họ giúp mở rộng mạng lưới. Một người đảm bảo chắc chắn mối liên kết với những người khác.”

Một số sinh viên của Contractor sau bài tập này thấy rằng họ đang tự giới thiệu bản thân mình với những mối liên hệ có giá trị nhất của họ. Contractor nói: “Đó không phải là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa bạn đang không sử dụng mạng lưới của mình hiệu quả và bạn đang không tham gia được vào chu trình liên kết đó.”

Ảnh: meetup.com

Các nguyên tắc cần nhớ

Nên:

- Hãy thành thực để có thể tạo dựng được uy tín và duy trì được các mối quan hệ lâu dài.

- Nuôi dưỡng mạng lưới (thông qua Twitter, Facebook, emails,…) để chuyển tiếp các thông tin hữu ích và cho thấy bạn tham gia vào mạng lưới sâu như thế nào.

- Đề nghị giúp đỡ với một chút hài hước và khéo léo, tế nhị.

Không nên:

- Tập trung vào có được điều gì đó từ một mối liên hệ mới ngay lập tức

- Trốn sau công nghệ và tránh các mạng lưới gặp mặt trực tiếp

- Không tìm hiểu độc giả và không đưa ra một cách tiếp cận cá nhân.

Trường hợp 1: Bạn không bao giờ biết ai có thể có ích

Khi còn làm việc ở Allbritton Communications, Mary- Claire Burick, hiện là giám đốc một công ty viễn thông chiến lược của riêng mình, đến tham dự một sự kiện của Phòng thương mại D.C và ngồi cạnh một nhà xuất bản cộng tác của tạp chí DC. Cô nhớ lại: “Tôi không nghĩ nhiều về mọi việc lúc đó nhưng tôi nghĩ tôi sẽ duy trì mối liên hệ trên tinh thần tạo dựng mạng lưới. Thay vì chỉ nói chuyện về những chủ đề hời hợt, cô hướng cuộc nói chuyện đến những vấn đề kinh tế cụ thể và các cuộc gặp có sắp lịch sau đó.

Ngược lại, ông cũng mời cô tham dự vào các sự kiện của công ty ông nơi họ tiếp tục những cuộc thảo luận. Chiến lược của cô là nhiệt tình với mối liên hệ mới này và tìm hiểu lợi ích của tạp chí. Vài tháng sau đó, nhà xuất bản và Burick kết thúc ý tưởng đó bằng việc tạo ra một mảng mới cho chương trình mà công ty của Burick đang thực hiện. Burick nói: “Chúng tôi có thể cùng động não thành công bởi vì chúng tôi đã nuôi dưỡng mối liên hệ của mình.” Nhà biên tập của tạp chí DC Magazine thường xuất hiện mỗi thứ Sáu trong chương trình truyền hình Allbritton giúp Burick hoàn thành các nội dung về thể thao và quản cáo luôn cho tạp chí DC Magazine.

Ông chủ của Burick thì quá ấn tượng với việc cô có thể thực hiện một chương trình mới trong một thời gian ngắn và Nhà biên tập cũng giới thiệu những người mới để phỏng vấn trong chương trình. Burick nói: “Mối quan hệ cũng giúp tôi trong công việc kinh doanh mới bởi vì tôi gặp gỡ được nhiều khách hàng trong các sự kiện của tạp chí. Bạn không bao giờ biết bạn sẽ gặp gỡ ai đó và làm thế nào các bạn có thể giúp đỡ lẫn nhau trong tương lai.”

Trường hợp 2: Tìm việc cũng tạo ra mạng lưới bền vững

Meghna Majmudar gần như suy sụp khi cô nghe tin rằng Katzenbach Partners nơi cô làm trợ lý giám đốc có thể không còn thuê cô nữa. Nhưng vài ngày sau đó, đối tác quản lý của công ty gửi cô một thư nói rằng ông muốn gặp cô trong một giờ để giúp cô chiến lược hóa việc tìm việc và liên hệ cô với đúng người. Vào cuối cuộc gặp, ông đưa ra cho cô tên 5 người mà ông sẽ giới thiệu với cô vào tuần tới.

Từ đó Majmudar dành thời gian cho mạng lưới của mình. Nếu cô tham dự một sự kiện, cô có thể gặp được người tổ chức và gửi thư phản hồi và cảm ơn, ít nhất cũng có thể dẫn đến một bữa tối với một người quan trọng trong lĩnh vực của cô. Nếu cô đến bữa tiệc, thay vì hỏi về chức danh công việc, cô lại hỏi mọi người về kinh nghiệm của họ để cố gắng tìm hiểu xem cô có thể giúp gì họ không. Cô nói: “Khi cần, tôi chia sẻ những kinh nghiệm chuyên môn và cố gắng tìm cách để liên kết với mọi người. Tôi nhận thấy rằng sau một mức độ thâm niên nhất định, khi ai đó thích bạn nhưng không có những vị trí mở, họ có thể thực sự hạnh phúc khi đem lại những lời khuyên về nghề nghiệp và giới thiệu bạn với người khác.”

Majmudar thấy rằng bằng việc cởi mở và thảo luận về đam mê của cô với công việc, cô có thể có được sự ủng hộ của những người có ảnh hưởng và có thể tận dụng được sự hướng dẫn của những người có kinh nghiệm hơn. “Những người nói chuyện với tôi có nhiều đặc điểm riêng vì vậy tôi có thể chỉ ra giá trị của họ trong cuộc nói chuyện.” Sau ba tháng, Majmudar có được một công việc mà cô nói là “tuyệt” và cảm thấy tự tin trở lại. Cô nói: “Sau chuyện về mạng lưới lần đó, tôi có nhiều năng lượng và nguồn lực hơn để vạch ra những dự án cho tương lai.”

- Bài viết của Ariana Green trên Harvard Business Publishing -

Nguyễn Tuyến dịch

Bạn có phải là một nhà lãnh đạo?

Bạn có phải là một nhà lãnh đạo?

Trong kinh doanh, hầu hết mọi người - từ chủ doanh nghiệp, giám đốc điều hành, chủ tịch, phó chủ tịch, quản lý cho đến trưởng phòng - đều muốn được nhìn nhận là một nhà lãnh đạo, không chỉ trong mắt của những người có trách nhiệm với họ, mà còn với những người mà họ có trách nhiệm nữa. Chuyên viên bán hàng (CVBH) cũng vậy, họ cũng muốn được đồng nghiệp và khách hàng nhìn nhận là một nhà lãnh đạo. Tuy nhiên, điều gì khiến bạn trở thành một nhà lãnh đạo?

"Being a leader is like being a lady; if you have to go around telling people you are one, you aren’t." (Tạm dịch: Nhà lãnh đạo cũng giống như một người phụ nữ; nếu bạn phải đi loanh quanh kể cho mọi người rằng mình là người lãnh đạo, thì hóa ra bạn không phải lãnh đạo.) – Margaret Thatcher.

Có rất nhiều bài viết về khả năng lãnh đạo và làm thế nào để phát huy chúng. Nhiều nhà lãnh đạo ngày nay, trong kinh doanh lẫn chính trị, đều đánh đồng sự lãnh đạo với tính đại chúng. Họ thăm dò và khảo sát để tìm hiểu điều gì đang phổ biến và sau đó cố gắng thích ứng và đi theo quan điểm đó. Họ cố gắng điều chỉnh mọi thứ để thích nghi với tất cả mọi người… và rốt cuộc không được gì cả. Tính đại chúng không phải là sự lãnh đạo.

Lead, follow, or get out of the way. (Tạm dịch: Dẫn dắt, theo dõi, hoặc tránh ra.) – Thomas Paine.

Những nhà lãnh đạo đúng nghĩa đều có 1 đặc điểm chung. Họ có tầm nhìn – niềm tin vào một mục tiêu. Và, mục tiêu đó không phải tham vọng cá nhân. Đó là thứ gì đó to tác hơn, vĩ đại hơn. Tham vọng bản thân có thể thôi thúc một cá nhân, chứ không thể thúc đẩy người khác nghe và làm theo.

Lãnh đạo chính là có lập trường để thúc đẩy mục tiêu, dù biết rằng điều đó cũng sẽ kéo theo sự chỉ trích. Đó là khả năng chịu đòn và phản công. Đó là khả năng thuyết phục và tập trung vào tầm nhìn đó. Nhà lãnh đạo biết rằng nếu họ không có sự thuyết phục tuyệt đối, họ sẽ không thể truyền cảm hứng cho người khác nghe theo.

Quan trọng nhất, nhà lãnh đạo đúng nghĩa cũng biết rằng lãnh đạo không phải là đạt được thành công cá nhân (hoặc giàu có); mà đó chính là việc biến tầm nhìn của họ thành hiện thực… đạt được mục tiêu của tầm nhìn đó dù biết rằng bản thân họ phải chấp nhận hi sinh.

If your actions inspire others to dream more, learn more, do more and become more, you are a leader. (Tạm dịch: Nếu những hành động của bạn truyền cảm hứng cho người khác mơ ước nhiều hơn, tìm tòi hơn, làm nhiều hơn và trở nên xứng đáng hơn, thì bạn là một nhà lãnh đạo.) – John Quincy Adams.

Bạn có tầm nhìn… mục tiêu vĩ đại hơn những gì bản thân bạn đang dấn thân không? Bạn có sẵn lòng trụ vững trên đôi chân của mình và bảo vệ lập trường của mình, bất chấp mức độ đại chúng của lập trường mình, hay không? Bạn có truyền cảm hứng (hơn là đòi hỏi) cho mọi người giúp đỡ bạn hoàn thành mục tiêu không? Nếu thế, có lẽ bạn là một nhà lãnh đạo.

Những chai gỗ bowling không có sự chọn lựa nào cả… bạn lại có


Những chai gỗ bowling không có “sự chọn lựa” nào cả, ngoài việc ngã xuống khi bị quả bóng bowling ném trúng. Đây là cách mà chúng được dựng lên. Đó là số phận của chúng… bị ném ngã, hết lần này đến lần khác. Những chai gỗ này không thể chọn “đứng vững trên lập trường của mình” và từ chối ngã xuống khi bị trái bóng ném trúng. Chúng không bao giờ được chọn một chiến lược mới để di chuyển ra khỏi đường băng nhằm tránh khỏi bị ngã khi trái bóng lăn nhanh đến. Chúng cũng sẽ không bao giờ được chọn cách từ bỏ môi trường “không an toàn” của đường băng và tìm kiếm một môi trường khác, an toàn hơn. Hết lần chơi này đến lần chơi khác, chúng phải liên tục làm tròn bổn phận của mình; bị quả bóng ném ngã hết lần này đến lần khác.

Giống như chai gỗ bowling là một sản phẩm của quy trình sản xuất tạo ra một hình dạng có thể nhận diện được. Bạn cũng vậy. Bạn là một sản phẩm của tiến trình sản xuất vốn biến hành vi và hành động của bạn thành một dạng có thể nhận ra được. Hình thức hay sự lập trình đó, được thể hiện theo cách mà cha mẹ và những người có sức ảnh hưởng khác đã hình thành suốt buổi đầu thời thơ ấu của bạn. Họ dạy bạn, theo quan điểm của họ, điều nào là đúng, điều nào là sai, tốt và xấu, thích hợp và không thích hợp. Bạn có lẽ ngoan ngoãn làm theo sự hướng dẫn của họ, hoặc thể hiện hành vi chống đối ngược lại điều họ dạy, hoặc thể hiện hành vi nào đó giữa 2 giới hạn của phạm vi này. Cho dù bạn là thành quả của sự dạy dỗ này hay không thì những gì bạn cảm nhận, suy nghĩ, thực hiện ở hiện tại đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quá trình dạy dỗ này.

Tuy nhiên, không giống như chai gỗ bowling vốn không có sự chọn lựa nào ngoài việc thực hiện theo lập trình đã được cài đặt sẵn, bạn có thể làm theo ý chí của mình. Bạn có thể chọn lựa cách bạn hành động và phản ứng lại lập trình của bạn. Bạn có thể xây dựng cuộc sống của mình hoàn toàn bám sát và thích hợp với những gì đã được lập trình và hành vi được định sẵn đó. Bạn cũng có thể chọn cách hướng năng lượng của mình sang những hành vi khác để hỗ trợ tốt hơn những gì của bạn ở hiện tại. Văn bia của bạn có thể được khắc trên đá, nhưng hướng đi trong cuộc sống và những thành tựu sau cùng của bạn lại không được như vậy. Chúng chỉ là thành quả của những việc do chính bạn làm ra. Không ai định sẵn con đường bạn phải theo. Bạn có quyền tự do muốn trở thành người như thế nào, làm gì, được biết và được nhớ đến ra sao. Sự lựa chọn là ở bạn. Bạn không phải là chai gỗ bowling.

Không đưa ra quyết định cũng là một quyết định

Kinh tế đang trì trệ. Dòng tiền không lưu chuyển như vài năm trước đây. Thật khó để tìm được thương vụ mới. Khách hàng tiềm năng (KHTN) không bước vào lối đi bạn đã mở sẵn hay gõ cửa tìm đến bạn. Điều duy nhất “có thể chắc chắn” về những khách hàng lâu năm của bạn là những đơn hàng của họ sẽ dần ít hơn và cũng kém đều đặn hơn.

Nếu chiến lược và hành động của bạn trong việc tìm kiếm và phát triển những cơ hội làm ăn mới không hiệu quả dưới tình hình hiện tại, vậy bạn sẽ phải làm gì đây?

Bạn có thể làm vài điều sau:

• Bạn có thể tăng cường những nỗ lực tiếp thị trong việc tìm kiếm KHTN.
• Nếu thích hợp, bạn có thể khuyến mãi khách hàng hiện tại để thúc đẩy những đơn hàng được lên lịch trước của họ.
• Bạn có thể yêu cầu khách hàng hiện tại giới thiệu bạn đến KHTN mới.
• Bạn có thể gọi điện – hoặc đi ra ngoài – tìm kiếm khách hàng.
• Bạn có thể gọi đến khách hàng hiện tại và tìm ra cách cung cấp thêm giá trị cho họ.

Không thể xác định chiến lược nào sẽ hiệu quả nhất, mang lại kết quả nhanh nhất, hay thu được lợi nhuận lớn nhất phải không? Hãy ngừng suy nghĩ về điều đó. Tiếp tục “nghĩ về điều đó” cũng tương tự như việc để KHTN “nghĩ về điều đó” khi đưa ra quyết định mua hàng. Cả 2 dẫn đến cùng một kết quả - KHÔNG ĐƯỢC GÌ CẢ.

Không đưa ra quyết định… đã là một quyết định: quyết định KHÔNG LÀM GÌ CẢ.

Bạn có sợ đưa ra quyết định sai và có lẽ làm mọi thứ tồi tệ hơn hay không? Sẽ thật tuyệt vời nếu mọi quyết định bạn đưa ra đều là quyết định “đúng”. Tuy nhiên, không thể có được nhiều quyết định “đúng” cho đến khi một vài quyết định “sai” được kiểm nghiệm ban đầu. Mỗi quyết định “sai” chắc hẳn sẽ đưa ra một bài học, nếu được ứng dụng, sẽ làm quyết định kế tiếp có khả năng tốt hơn nhiều.

Cho dù bạn rút ra được bao nhiêu bài học trước khi bạn “có quyết định đúng”, bằng cách quyết định LÀM MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ, bạn hãy bắt đầu tiến trình chuyển hướng và thực hiện. Vì vậy, hãy ngừng SUY NGHĨ, quyết định, và bắt đầu HÀNH ĐỘNG.
Tham khảo:

10 tố chất của một nhà lãnh đạo thành công
Để lãnh đạo tốt, hãy là tấm gương
6 phẩm chất lãnh đạo đáng quý
Trở thành nhà lãnh đạo sáng suốt
8 bí quyết của người lãnh đạo giỏi
Lãnh đạo là lòng tin và trung thành
Phát triển và nuôi dưỡng tố chất lãnh đạo
Cái giá của sự tự kiêu và bài học kinh doanh từ Alexander đại đế
Bạn có phải là nhà lãnh đạo trong khủng hoảng?
Bạn có phải là Sếp tốt nhất cho công ty?
5 cạm bẫy với những nhà lãnh đạo nôn nóng
Bạn có thực sự mong muốn làm… Sếp?
Lãnh đạo có phải là "Vua"
Các nguyên tắc của năng lực lãnh đạo

Bí quyết trở thành nhà quản trị nhân sự tài giỏi

Bí quyết trở thành nhà quản trị nhân sự tài giỏi

( Bình chọn: 2 -- Thảo luận: 2 -- Số lần đọc: 2518)


Bầu không khí sinh hoạt trong công ty sẽ quyết định sự thành đạt của bạn. Chúng ta không phủ nhận vai trò của các lĩnh vực khác như quản trị tài chính, quản trị sản xuất, quản trị hành chính, kế toán… nhưng rõ ràng quản trị nhân sự đóng vai trò rất quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Bất cứ cấp quản trị nào cũng phải biết quản trị nhân viên của mình.

Quản trị nhân sự là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội, đạo đức… Nó là sự trộn lẫn giữa khoa học và nghệ thuật - nghệ thuật quản trị con người.

Công việc quản trị không hề dễ dàng khiến cho vai trò của nhà quản trị trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một nhà quản trị giỏi cần biết phân tích và nắm vững các yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến công tác quản trị nhân sự.

Muốn lãnh đạo nhân viên thành công, muốn nhân viên an tâm nhiệt tình công tác, nhà quản trị phải có những bí quyết riêng. Nghệ thuật quản lý nhân sự dựa trên ba bí quyết đơn giản nhưng rất hiệu quả nhằm tăng năng suất làm việc của nhân viên, tăng lợi nhuận và sự thỏa mãn của khách hàng. Nhân viên làm việc năng suất hơn nếu như họ biết bạn muốn họ làm cái gì, họ được khen ngợi khi làm đúng và bị khiển trách rõ ràng nếu làm việc không tốt, nhưng nhân cách của họ cũng phải được tôn trọng. Những nhà quản trị nhân sự áp dụng những bí quyết này ít bị căng thẳng và dễ đạt được thành công.

Bí quyết một: xác định mục tiêu

Bí quyết đầu tiên này là nền tảng cho mọi thứ khác. Nếu mục tiêu không rõ ràng, thì không thể đánh giá được thành quả công việc của nhân viên. Trong hầu hết các công ty, nhân viên và ban giám đốc có hai mục tiêu khác biệt nhau. Nếu như ban lãnh đạo và nhân viên không thông tin cho nhau để tìm ra một số mục tiêu chung mà hai bên đều nhất trí, thì sẽ chẳng có bên nào thỏa mãn, thậm chí lại gây phiền toái cho nhau.

Nếu như bạn hỏi các nhân viên là họ có làm việc tốt hay không, thì câu trả lời thông thường nhất sẽ là: “Gần đây, tôi chưa hề bị sếp khiến trách” hoặc “không ai nói động gì tới tôi là tốt rồi”. Để tránh cho nhân viên có thái độ tiêu cực này, bạn phải xác định được mục tiêu rõ ràng. Các nhà quản trị nhân sự khôn khéo nên cho nhân viên biết ngay từ đầu là họ phải làm cái gì.

Để hoàn tất quá trình này, hãy viết các mục tiêu trên một mảnh giấy nhỏ, không quá 250 từ. Tại sao phải viết ra giấy? Để nhân viên và ban lãnh đạo có thể đọc được hàng ngày, xem hành vi của mình có phù hợp với mục tiêu hay không.

Bí quyết hai: khen ngợi

Nhà quản trị nhân sự khôn khéo áp dụng kỹ thuật khen ngợi gồm ba phần cơ bản:

1. Khen ngay lập tức - luôn luôn khen nhân viên đúng lúc họ làm tốt. Đừng để dành lời khen đó.

2. Khen cụ thể - ai cũng muốn được đối xử tốt nhưng người ta cảm thấy thích nhất khi được nói chính xác là đã làm tốt cái gì.

3. Chia sẻ tình cảm - hãy phát biểu cảm nhận của mình - không phải là những gì bạn nghĩ mà là những gì bạn cảm thấy. Tình cảm là yếu tố thân mật hơn những ý nghĩ trong mối quan hệ con người.

Quan trọng là hãy nhớ khen ngợi nhân viên ngay lúc đầu, khi mà họ bắt đầu hiểu và thực hiện được gần đúng công việc. Đừng chờ đến khi nhân viên làm thật đúng rồi mới khen. Những việc làm gần đúng sẽ tạo nên một việc làm thật đúng. Ngoài ra, đừng bao giờ khiển trách hoặc phạt nhân viên khi họ đang tìm tòi, học hỏi cách làm tốt công việc. Khiển trách họ vào lúc đó sẽ làm cho họ chán nản muốn trả đũa và thậm chí làm họ muốn thoát lui.

Bí quyết ba: Khiển trách

Bí quyết thứ ba của nhà quản trị nhân sự giỏi là sửa chữa những điều sai trái của nhân viên để tạo nên những kết quả tích cực. Có bốn quy tắc để khiển trách hiệu quả:

1. Khiển trách ngay: khiển trách ngay khi nhân viên làm sai. Đừng gom các lời khiển trách đó lại rồi “làm một lượt”. Nếu không thì khi khiển trách nhân viên chính bạn có thể sẽ nổi khùng.

2. Khiển trách cụ thể: đừng nói chung chung “Anh làm tôi muốn khùng lên…” và khi người bị khiển trách hỏi tại sao thì nhà quản trị nhân sự giỏi luôn nói rõ nguyên nhân để họ có thể sửa đổi.

3. Chia sẻ tình cảm: một khi bạn đã giải thích người ta làm sai cái gì thì hãy giải thích bạn cảm thấy thế nào về điều đó - giận, khó chịu, thất vọng hay một cảm giác khác.

4. Nói cho người ta biết họ tốt thế nào: giai đoạn cuối có lẽ quan trọng nhất. Hãy chấm dứt lời khiển trách bằng cách nói với nhân viên rằng thái độ mà bạn đang phê phán không phải là thái độ mà bạn thường thấy ở họ và lại càng không phải thái độ mà bạn mong muốn trong tương lai. Hành vi sai trái đó chỉ là hiện tượng nhất thời. Về bản chất, họ là những nhân viên tốt. Có như thế, bạn mới có thể hướng sự chú ý của người bị khiển trách vào những điều họ đã làm sai, chứ không chú ý vào cách bạn đã đối xử với người đó như thế nào.

Trong quá trình công tác, chắc hẳn không có một cấp quản trị nào lại thuận buồm xuôi gió chèo lái nhân viên của mình trong sóng biển yên lặng. Mâu thuẫn giữa các nhân viên với nhau, mâu thuẫn giữa các nhân viên với cấp quản trị, mâu thuẫn giữa nhân viên với chính sách của công ty... có thể thường xuyên xuất hiện. Nhà quản trị phải khôn ngoan, khéo léo giải quyết các vấn đề một cách khoa học nhưng nên uyển chuyển, tránh để xảy ra các cuộc xô xát, đình công hay bãi công. Và tốt nhất vẫn là nhà quản trị biết giao tế nhân sự giỏi, biết thu phục và biết động viên nhân viên để họ làm việc một cách hăng hái, đưa công ty đến đỉnh thành công.


saga.vn
kienthuckinhte.com